Showing posts with label làm giàu từ nông nghiệp. Show all posts
Showing posts with label làm giàu từ nông nghiệp. Show all posts

Wednesday, November 5, 2014

Làm giàu nhờ trồng đinh lăng ở Nam Định

Sự thành công của những hộ trồng đinh lăng theo tiêu chuẩn GACP-WHO đã tác động đến đời sống kinh tế xã hội của người dân. Ngoài trao đổi kinh nghiệm, họ còn giúp đỡ những nông dân khác nhân rộng vùng trồng đinh lăng.

Cuối tháng 10/2013, Quyết định số 1976/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 đã mở ra hướng đi mới cho cây dược liệu. Ở Nam Định, cây dược liệu, đặc biệt là cây đinh lăng đang được hướng đến quy hoạch vùng. Loại cây dược liệu quý này không chỉ góp phần xóa đói giảm nghèo cho người nông dân mà còn góp phần làm giàu cho họ. 

Ông Phạm Quốc Hoàn, người nông dân được mệnh danh là tỷ phú với vườn đinh lăng hơn 4 mẫu cho biết, ông trồng cây đinh lăng từ năm 1994 và loại cây dược liệu đã không phụ lòng người tâm huyết với nó. Ông chia sẻ: “Đã có thương lái về trả tôi 1 tỷ cho cái vườn đinh lăng 3 tuổi này. Nhưng tôi không bán. Tôi cứ để đó, để càng lâu càng có giá, hơn nữa, tôi còn tận dụng lấy giống trồng gối vụ”. Ngoài trồng đinh lăng, ông còn đào ao thả cá, nuôi trang trại lợn để lấy phân hữu cơ bón cho cây và trồng xen dưa hấu, dưa lê, dưa bở với đinh lăng. Mỗi năm, doanh thu từ các sản phẩm ngoài đinh lăng cũng đưa về cho ông hàng trăm triệu đồng.
Ông Phạm Quốc Hoàn bên vườn đinh lăng của gia đình
Người nông dân này cho biết, cây đinh lăng không đơn thuần là cây xóa đói giảm nghèo mà còn là cây làm giàu cho người nông dân trong xã. Nhưng không phải ai cũng theo đuổi được, vì trồng đinh lăng cần nhất là cái tâm huyết và sự kiên trì. Theo cây đinh lăng cũng không thể vội, ít nhất 3 năm sau ngày trồng mới được thu hoạch, đầu tư ban đầu cho cây cũng là một bài toán khó với những người nông dân không có vốn. Trong khi đó, nguồn cung giống cây đinh lăng đang khan hiếm.

Nghĩa Hưng là một trong hai huyện của tỉnh Nam Định được tổ chức HELVETAS Swiss Intercooperation Việt Nam lựa chọn để thực hiện dự án “Phát triển các hoạt động thương mại sinh học trong lĩnh vực hợp chất tự nhiên tại Việt Nam” (dự án BioTrade). Tại đây, dự án BioTrade và công ty cổ phần Traphaco cùng hợp tác để phát triển dược liệu đinh lăng theo tiêu chuẩn hướng dẫn thực hành tốt trồng trọt và thu hái cây thuốc theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (GACP-WHO) tại tỉnh Nam Định.

Cũng giống như ông Hoàn, nhiều người nông dân ở đây đã trở thành tỷ phú nhờ cây đinh lăng. Với giá thu mua toàn bộ rễ, gốc, thân lá tại thị trường huyện từ 20.000 đến 25.000 đồng một kg. Nếu trồng 1 sào, 3 năm sau cho thu nhập 30- 45 triệu đồng; chi phí giống 1,5- 2 triệu và phân bón từ 400.000 - 600.000 đồng một sào; người nông dân trung bình lãi ròng 19 - 21 triệu đồng một sào một năm (tương đương 520- 580 triệu đồng mỗi ha một năm).
Ông Vũ Văn An, một trong những hộ trồng Đinh lăng theo tiêu chuẩn GACP-WHO tại xã Nghĩa Lạc cũng được xem là điển hình của người nông dân thành công cùng với cây dược liệu. Từ ngày được Traphaco và dự án BioTrade tập huấn, trồng trọt theo tiêu chuẩn GACP, thu nhập trên mỗi mẫu cũng vào khoảng 250 triệu đồng. Người nông dân không phải lo: đầu vào đầu ra của cây đinh lăng vì công ty cam kết với người nông dân thu mua cao hơn 10% so với giá thị trường; kiến thức trồng trọt của người nông dân được mở rộng, số lượng cây trồng mới bị chết ít đi, năng suất chất lượng nâng lên. Đây là cây dược liệu nên phải trồng an toàn, theo các tiêu chuẩn có lợi cho môi trường.
Trung tâm giống sẽ cung cấp đủ 40ha diện tích vùng trồng đinh lăng.

Được sự hướng dẫn của các cán bộ nghiên cứu Traphaco, ông An còn trồng xen đinh lăng với cây hòe, cũng là một cây dược liệu khác. Cây hòe thuộc họ đậu, tăng dinh dưỡng cải tạo cho đất, lại là cây rễ cọc thuộc tầng dinh dưỡng khác với đinh lăng, do đó trồng xen kẽ với đinh lăng không chỉ phù hợp còn góp phần tăng thu nhập cho người nông dân. Như vườn nhà ông An, sau hai năm trồng hòe xen canh trên một mẫu vườn cũng cho thêm thu nhập khoảng 30 triệu.

Traphaco đã phối hợp cùng với Công ty TNHH Hiệp Hưng Xanh và dự án BioTrade thành lập trung tâm giống đinh lăng theo tiêu chuẩn GACP-WHO. Đại diện công ty Hiệp Hưng Xanh cho biết, với diện tích gieo trồng trên 2,3 ha, mỗi năm trung tâm sẽ cung cấp khoảng từ 600.000 đến 1 triệu cây giống đinh lăng, cung cấp đủ cho 40ha diện tích vùng trồng, đảm bảo 50% diện tích trồng tạo ra sản lượng tiêu thụ của Traphaco.
(Nguồn: Dự án Biotrade)

Kiếm tiền triệu từ trồng hoa hồng trên biên giới

Những dịp rằm, mùng một hay những ngày ngày lễ tết, gia đình có thể thu hơn chục triệu đồng một ngày, chị Thu cho biết.

Rời Hưng Yên lên lập nghiệp tại xã Linh Hồ, huyện biên giới Vị Xuyên (Hà Giang) cách đây 10, vốn liếng ban đầu chỉ giúp gia đình chị Lê Thị Thu mua được 9 sào đất canh tác. Những năm đầu, vợ chồng chị chỉ quẩn quanh với lúa, ngô, sắn cho giá trị kinh tế thấp.

"Sau bao đắn đo suy nghĩ, vợ chồng tôi bàn với nhau phải trồng những loại cây mới mà thị trường đang có nhu cầu. Cuối cùng, chúng tôi chọn hoa hồng để thay cây lúa, ngô, sắn…" - chị Thu nhớ lại.
 Trồng hoa hồng giúp gia đình chị Lê Thị Thu kiếm được chục triệu đồng mỗi tháng.

Vợ chồng chị tìm về tận làng hoa Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là Hà Nội) học hỏi kinh nghiệm và mua giống mang về ươm trồng. Chưa yên tâm, anh chị còn thuê cả nông dân trồng hoa giỏi ở Mê Linh lên hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch và bảo quản hoa hồng. Sau 6 tháng trồng, những bông hoa hồng đầu tiên đã cho thu hoạch, mang lại nguồn thu đáng kể cho gia đình chị.
"Bắt đầu từ năm thứ 2 trở đi, vườn hoa hồng nhà tôi đã cho thu hái hàng ngàn bông mỗi ngày. Số hoa này được thương lái mua và bán ngay tại thị trấn Vị Xuyên và mang lên thành phố Hà Giang tiêu thụ", chị Thu cho biết.

Những ngày bình thường, với giá bán khoảng 500 - 700 đồng một bông, mỗi ngày gia đình chị Thu kiếm được 500.000 - 700.000 đồng. Những dịp rằm, mùng một, hay những dịp ngày lễ, tết thì gia đình thu cả dăm, bảy triệu, thậm chí hơn chục triệu đồng một ngày là bình thường. Từ năm 2012 đến nay, anh chị mở rộng thêm 2 sào đất để trồng giống hoa hồng màu kem mà thị trường đang ưa chuộng.
Chị Thu chia sẻ: "Nhờ trồng hoa hồng mà vợ chồng tôi đã trả hết nợ vay, xây cất được ngôi nhà mái bằng 2 tầng khang trang, mua sắm được nhiều vật dụng sinh hoạt đắt tiền, có tiền gửi tiết kiệm. Giờ đang có thương lái đặt vấn đề đưa hoa hồng Hà Giang về xuôi tiêu thụ, chắc chắn vợ chồng tôi sẽ mở rộng diện tích".
 Theo Dân Việt

Thu hàng trăm triệu từ cây mắc ca

Trong lúc chưa có người trồng mắc ca nào thành công tại vùng núi phía tây Thanh Hóa, anh Phạm Hữu Tú vẫn dám chặt “non” gần 2ha luồng để dành đất cho một loại cây lần đầu tiên nghe tên.
 
Hơn 10 năm trước anh Phạm Hữu Tú (Thành Mỹ, Thạch Thành, Thanh Hóa) được nhận khoán 20 ha rừng từ Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện. Ngoài việc chăm sóc, bảo vệ rừng phòng hộ, diện tích còn lại anh cùng gia đình tập trung đầu tư trồng luồng - loại cây rất có giá trị lúc bấy giờ.

Năm 2006 nhân chuyến đi công tác tại địa phương, nguyên Phó thủ tướng Nguyễn Công Tạn nhắc đến giống cây mới tên là mắc ca có giá trị rất cao, có thể mang về hàng tỷ đôla mỗi năm, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng nơi đây. Lập tức, anh Tú bắt tay vào tìm hiểu về loại cây có tên lạ này.
Thực tế, lúc đó một số hộ dân tại các huyện lân cận như Ngọc Lặc, Thường Xuân đã trồng mắc ca, nhưng tất cả đều không thành công. Lặn lội lên tận nơi để dò hỏi nguyên nhân thất bại, anh nhận thấy mắc ca là cây ưa ánh sáng, trong khi các hộ trồng tận dụng phần đất hở để xen canh với nhãn hoặc cây rừng, nên dù có đến cả trăm gốc mắc ca nhưng chỉ thu được vài kg quả tươi.
Anh Tú (áo kẻ) muốn phủ kín đồi trọc quê hương bằng cây" tỷ đô" mắc ca. Ảnh: Khắc Công
Mừng vì rút được kinh nghiệm, anh Tú càng quyết tâm làm. Qua giới thiệu, anh tìm đến Trạm Nghiên cứu Giống cây trồng Ba Vì (nay là Viện Nghiên cứu Giống cây trồng Hà Nội) đặt mua 500 cây giống với giá 40.000 đồng một cây về trồng thử. Lúc này, phần lớn số diện tích đất tốt của gia đình đang trồng luồng, số còn lại là đồi trọc, xa nơi ở không tiện chăm sóc cây mắc ca. Tính toán mãi, cuối cùng anh quyết định thu hoạch luồng sớm hơn kế hoạch.

“Khi đó gần 5ha luồng được hơn 5 năm tuổi, còn ít thời gian nữa vào thu hoạch. Không còn cách nào khác, tôi phải chặt non 2ha để nhường đất cho mắc ca. Giống đã mua về, tiền cũng đã bỏ ra đành lòng thử liều một phen. Nói thật khi đó cũng rất run”, anh Tú kể lại.

Anh cho biết, mắc ca là một loại cây dễ trồng, ưa ánh sáng, kỹ thuật canh tác, chăm sóc không đòi hỏi cao nên quá trình trồng không gặp nhiều khó khăn. Nhưng khi đến lúc thu hoạch thì bắt đầu lo đến đầu ra. Do là giống cây mới, thậm chí khi đó nhiều người trong vùng còn lầm tưởng mắc ca là cây ca cao. “Người nói ra nói vào cây này ở Tây Nguyên trồng còn chưa ăn ai chứ nói gì ở vùng 'chó ăn đá gà ăn sỏi này'”, anh Tú nhớ lại.

Tuy vậy, người nông dân vùng núi này lại nghĩ đơn giản rằng một loại quả dùng làm nguyên liệu cho ngành thực phẩm lẫn dược phẩm chắc chắn sẽ có người mua nếu như đưa ra thị trường thứ quả tốt. Có lúc, anh đã tính nếu “bí”quá đem ra chợ vừa bán vừa tuyên truyền cho mọi người biết công dụng của mắc ca.

Cứ vậy, sau 3 năm trồng thử, đến năm 2009 một số cây mắc ca bắt đầu cho quả bói, thu hoạch cũng được vài cân quả tươi. Đến năm 2011, anh Tú thu được 5 tạ quả, một năm sau đạt một tấn và năm nay sản lượng là hơn 3 tấn.

“Khó khăn rồi cũng qua hết và quả nhiên hai năm nay không có quả mà bán. Một số công ty bánh kẹo tại Hà Nội, Công ty dược phẩm Trung ương 1 cũng đặt hàng nhưng quả ra còn không kịp”, anh Tú cho biết.
Sản lượng quả mắc ca luôn tăng nên có thể cho thu nhập hàng trăm triệu mỗi năm.
Đang đúng thời điểm sinh trưởng tốt, sản lượng quả ngày càng tăng, giá bán ổn định ở mức 60.000-80.000 đồng một kg, mỗi năm thu về 300-400 triệu đồng, anh Tú lại đột ngột chuyển hướng.
Nhận thấy hiệu quả từ mô hình trồng cây mắc ca, nhiều hộ dân quanh xã và các khu vực lân cận cũng bắt đầu cải tạo diện tích đồi để trồng. Tin tưởng về chất lượng quả mắc ca của vườn anh Tú, mọi người đến đặt anh làm cây giống. Vì vậy, một năm trở lại đây, anh dành nhiều công sức và tâm huyết để ươm cây, lai ghép cành bán cho những ai có nhu cầu.

“Kể từ khi trồng mắc ca đến nay không gặp nhiều thất bại, nhưng khi chuyển qua tạo giống cây lại gặp nhiều khó khăn. Như vụ vừa rồi có hơn 10.000 cây chờ ghép, nhưng thời tiết mưa nhiều, ẩm thấp nên chỉ thành công được khoảng 3.000 cây, số còn lại coi như mất”, anh cho hay.

Sau mỗi lần thất bại, anh Tú lại khăn gói đi gặp các chuyên gia trồng trọt, thợ ghép cây giỏi để tìm hiểu nguyên nhân, học hỏi kinh nghiệm, xin được chuyển giao công nghệ. Nhờ đó mà tay nghề ghép cây giống của anh chuyên nghiệp hơn trước, giống cây mắc ca do anh ươm hiện đã có mặt tại nhiều tỉnh, thành khu vực miền Bắc.

Thời gian tới, bên cạnh việc cung cấp cây giống, anh Tú có kế hoạch mở rộng thêm một số diện tích trồng mới. “Tôi muốn phủ kín đồi trọc của quê hương bằng giống cây này. Chắc chắn năm sau sẽ có thêm một vài ha mắc ca nữa, nếu không sẽ thụt lùi so với các hộ khác”, anh Tú nói.
Theo Vnexpress

Sunday, October 12, 2014

Tẩy chay hóa chất, làng đu đủ hốt bạc nhờ ủ quả an toàn

Người trồng đu đủ ở làng Thu Quế (Đan Phượng, Hà Nội) từ ngày đua nhau tẩy chay hóa chất, quay về cách giấm ủ quả truyền thống được khách hàng tin tưởng. 
Trung bình mỗi năm, 4 sào đu đủ nhà chị Mười cho thu hoạch khoảng hơn 5 tấn, doanh thu 40 triệu đồng. Ảnh: Diệp Sa.

Những ngày cuối thu là mùa đu đủ xuống phố, ra chợ. Từ đầu tháng 8 Âm lịch, vợ chồng chị Lê Thị Mười (làng Thu Quế, xã Song Phượng, Đan Phương, Hà Nội) tất bật trẩy đu đủ, giấm hương mang vào nội thành bán. Sạp hàng của chị Mười tại sân chợ nhà thờ làng Vạn Phúc (Kim Mã, Ba Đình, Hà Nội) rộng chỉ khoảng 1 m. Tại đây, chị Mười bán đủ loại rau quả nhưng riêng đu đủ sạch do nhà trồng là loại quả bán nhanh nhất, số lượng lớn nhất mỗi ngày.
 

Chị Mười chia sẻ, trung bình mỗi ngày chị bán hết từ 70 đến 100 kg đu đủ với giá 13.000 đồng/kg trong chưa đầy 2 tiếng buổi sáng. “Chở bằng xe máy lại ôm thêm các loại rau củ khác nên vợ chồng tôi không có sức lai thêm chứ mang ra bán bao nhiêu là hết bấy nhiêu. Bà con quanh chợ ăn quen, biết chất lượng, có nhà ngày nào cũng trực giờ tôi bán là ra mua về ăn, nhiều nhà ra muộn thì hẹn tới hôm sau”, chị Mười nói. Giá bán đu đủ tại sân chợ này có nhiều mức, dao động 12.000 - 15.000 đồng/kg. Nhưng theo chị chủ, giá hợp lý và chất lượng ngon, an toàn giúp hàng nhà chị nhanh hết, có nhiều khách quen.

Làng Thu Quế nổi tiếng là đất trồng đu đủ, cho hiệu quả kinh tế cao của huyện Đan 

Phượng, Hà Nội. Tuy nhiên, cách đây vài năm, nhiều thông tin phản ánh việc một số hộ dân trong làng sử dụng hóa chất độc hại để giấm chín đu đủ siêu nhanh khiến khách hàng quay lưng, không ít gia đình trồng đu đủ an toàn gặp cảnh lao đao. Gia đình chị Mười mới trồng đu đủ được 3 năm nay nhưng cũng như nhiều hộ trồng có tâm khác, chị Mười trồng đu đủ và giấm quả theo phương pháp ủ hương an toàn. “Muốn có khách lâu dài thì phải làm ăn tử tế. Khách hàng bây giờ tinh lắm, chỉ cần một lần sai phạm, bán hoa quả không đảm bảo cho khách là đi tong cả vườn, cả vụ!”, chị Mười tâm sự.


Gia đình có 4 sào đu đủ (hơn 1.400 m2), trồng được 415 cây theo phương pháp gieo hạt. Chị Mười mua giống đu đủ Đài Loan, cho năng suất khá cao. Trung bình mỗi cây thu hoạch được 10 - 30 quả, mỗi quả nặng 0,8 - 1 kg. Tổng kết trung bình một vụ thu hoạch khoảng hơn 5.000 tấn đu đủ, số lượng khá lớn nhưng chủ vườn cho biết, chỉ đủ cho khách mua lẻ. Tổng thu nhập hàng năm từ đu đủ của chị Mười là 40 triệu đồng, chưa kể các loại hoa màu khác. Mùa thu hoạch đu đủ kéo dài gần 3 tháng. Các cây ra hết quả, thu hoạch xong được nông dân phá bỏ, gieo hạt mới cho vụ kế tiếp.
 Dân làng Thu Quế chờ đu đủ trên cây xuất hiện 4 khía chín vàng sẽ trẩy xuống để giấm hương an toàn. Ảnh chụp tại vườn hộ nhà anh Thịnh, chị Hường (Thu Quế, Đan Phượng, Hà Nội).






Theo chị Mười, đu đủ là loại cây trồng nhàn, ít sâu bệnh nên không nhất thiết phải phun thuốc. Để đảm bảo phương pháp trồng an toàn 100%, chị Mười phòng sâu bệnh cho cây bằng vôi bột và bón phân gà ủ với trấu. Tuy nhiên, để đu đủ an toàn đến tay người dùng, chủ vườn tiết lộ, quan trọng nhất là khâu giấm quả. “Đu đủ nếu để chín hết trên cây sẽ bị rỗ, hỏng nên các nhà thường chờ tới khi có 4 khía vàng đỏ xuất hiện trên quả là thu hoạch luôn sau đó cho vào giấm”.


Nhà chị Mười và phần lớn các hộ trồng đu đủ tại làng Thu Quế hiện chọn phương pháp giấm ủ hương (còn gọi là vào hương) do cha ông truyền lại. Đu đủ thu hoạch được tập kết quanh những bát hương to, tỏa khói nghi ngút, sau đó trùm tải kín cho tới khi nóng ấm, hương cháy hết, chờ tới 3 - 4 ngày sau sẽ chín. Theo dân trong nghề, cách giấm này tuy tốn thời gian nhưng rất an toàn, giữ được độ ngọt đậm và mùi thơm của trái. “Loại đu đủ quả to, đẹp mã nhưng xanh được giấm chín bằng thuốc sẽ có vị nhạt nhẽo, thậm chí hơi đắng chứ không thể ngon như đu đủ chín cây giấm hương được”, một dân làng cho biết.


Hiện sản phẩm đu đủ sạch của làng Thu Quế được chính người dân trong làng ủng hộ. Những người con đi xa cũng liên hệ về làng mua đu đủ sạch làm quà cho người thân, bạn bè. Tiếng lành đồn xa, đu đủ Thu Quế được nhiều khách hàng ủng hộ. Chị Đào Mai Trinh (Lê Duẩn, Hà Nội) nhờ người quen nhập buôn đu đủ sạch, mẫu mã đẹp từ làng Thu Quế bán trên mạng khá đắt hàng. Trung bình mỗi ngày chị Trinh bán ra khoảng 30 kg đu đủ với giá 27.000 đồng/kg. “Đu đủ bán khá chạy nhưng không lãi nhiều do giá nhập hàng tuyển cao, lại phải trừ chi phí hư hao do vận chuyển và phí làm mác, đóng gói. Tuy nhiên, tôi rất vui khi đu đủ sạch của làng được khách hàng ủng hộ nhiệt tình”, chị Trinh chia sẻ.
Theo Zing

Thursday, October 9, 2014

Kiếm 2 triệu đồng mỗi ngày từ giá đỗ

Anh Nguyễn Pho (phường Ninh Hiệp, thị xã Ninh Hòa, Khánh Hòa) cho biết, ngày đầu lập nghiệplàm giá đỗ chỉ với bàn tay trắng, anh tìm tòi học cách làm.
Học xong, anh vận dụng kiến thức và mạnh dạn vay vốn làm thử 10 bi (ống) giá đỗ. Thấy giá đỗ tiêu thụ mạnh, anh đã đầu tư làm thêm, đến nay có 30 bi giá đỗ sạch, tạo công ăn việc làm thường xuyên cho 3 lao động.


Hiện mỗi ngày anh Pho xuất bán ra chợ khoảng 300kg giá đỗ, với giá bán 8.000 đồng/kg, trừ chi phí lãi gần 2 triệu đồng. Mỗi bi cho ra thành phẩm từ 30 – 35kg, chi phí đầu tư gần 150.000 đồng/bi, thời gian từ khi trồng đến thu hoạch gần 6 ngày.

Anh Pho cho biết, quan trọng nhất là chọn giống tốt, cát sạch, nguồn nước sạch, không dùng các chất kích thích trong khi ngâm và tưới.
Mô hình làm giá trong bi của gia đình anh Nguyễn Pho.


Nguồn giá sạch anh cung cấp quanh năm cho các đầu mối trên địa bàn, nhu cầu tiêu thụ khá mạnh nên anh sẽ tiếp tục mở rộng mô hình này. Các năm trước đây, giá bán chỉ dao động 5.000 – 6.000 đồng/kg, riêng năm nay giá 7.000 – 8.000 đồng/kg.


Anh Nguyễn Văn Hải – Chủ tịch Hội Nông dân phường Ninh Hiệp cho hay, sản xuất giá đỗ có đầu ra ổn định, chi phí đầu tư thấp.


Thời gian qua Hội Nông dân phường đã phối hợp Hội Nông dân tỉnh tổ chức lớp tập huấn làm rau mầm cho 35 học viên, đồng thời phối hợp ngân hàng cho các hộ vay vốn để đầu tư làm giá đỗ sạch. Nghề làm giá sạch đã tạo việc làm cho hàng trăm lao động tại địa phương, với thu nhập ổn định.

Theo thống kê của Hội Nông dân phường Ninh Hiệp, nghề làm giá ban đầu chỉ có khoảng 6- 7 hộ sản xuất nhỏ lẻ, nay đã có trên 11 hộ chuyên làm giá sạch trong bi.
Theo Dân Việt

Wednesday, October 8, 2014

Thạc sĩ bỏ thủ đô lên Mộc Châu trồng cà chua

Cả gia đình can ngăn, anh Dư cũng nếm trải nhiều khó khăn trước khi thành công với trang trại đang thu lãi mỗi năm cả tỷ đồng.

Sau khi tốt nghiệp chuyên ngành Khoa học Cây trồng - Đại học Nông nghiệp I, anh Trương Văn Dư (sinh năm 1981, Phú Xuyên, Hà Nội) tìm được một công việc trong doanh nghiệp nước ngoài tại thủ đô. Đến năm 28 tuổi anh nhận tấm bằng thạc sĩ khi đang làm cho một doanh nghiệp Nhà nước với mức lương cao.

Sống trong một gia đình nghèo, từ nhỏ đã trải qua nhiều vất vả nên anh luôn nuôi quyết tâm phải làm giàu. Nhận xong bằng thạc sĩ, anh Dư rủ một số bạn bè lên Mộc Châu thuê đất để làm nông nghiệp vì thấy khí hậu ở đây rất phù hợp. Ý tưởng này vấp phải phản đối mạnh mẽ từ gia đình, đặc biệt là mẹ anh. 

"Mẹ tôi nhiều lần khóc, khuyên can tôi ở Hà Nội làm việc rồi lập gia đình. Với những người thân của tôi, việc học hành bao nhiêu năm, đang đi làm ổn định, rồi lại tính về vùng đồi núi xa xôi để làm nông nghiệp thực sự là khó chấp nhận", anh Dư kể lại. Tuy nhiên, cuối cùng anh vẫn một mực lên đường.  
 Anh Dư luôn nuôi quyết tâm phải làm giàu.
Khi mới lên Mộc Châu, anh cùng bạn bè thuê 1,5ha đất để trồng dưa hấu. Do nguồn cầu của thị trường không lớn, bán không được giá nên chẳng mấy chốc nhóm bạn phải chịu lỗ 50 triệu đồng. Bạn bè anh rời Mộc Châu trở lại với Hà Nội, trong khi chàng thạc sĩ vẫn kiên trì, không cam chịu thất bại. 

Một mình ở lại, nhưng con đường đi tiếp theo ra sao vẫn là một câu hỏi lớn khiến anh Dư đau đầu. Với suy nghĩ, nếu cứ làm những sản phẩm thông thường, theo cách quen thuộc thì khó mà thành công được nên anh Dư nảy ra ý tưởng trồng cà chua trái vụ vì mặt hàng này hiện nguồn cung ở miền Bắc khá hạn chế.

"Ở miền Bắc, cà chua chỉ trồng được một vụ. Thị trường vẫn có không ít hàng Trung Quốc, còn vận chuyển từ Đà Lạt thì chi phí quá cao", anh lý giải.

Bắt tay vào triển khai kế hoạch mới, năm 2010 anh Dư tiếp tục thuê trang trại dưa hấu với giá 60 triệu một năm. Tuy nhiên, mọi việc không đơn giản như anh nghĩ. Giai đoạn từ tháng 4 đến 6, Mộc Châu thường bị ảnh hưởng gió tây, thời tiết nắng, rất khô và nóng. Do chưa có kinh nghiệm xử lý ánh nắng nên đợt giống đầu tiên, cây chết hàng loạt, anh tiếp tục lỗ vài chục triệu. Để cứu vãn tình hình, số lượng cà chua giống còn sống, anh triển khai để trồng thương phẩm. Tuy nhiên, khi gần được thu hoạch thì những trận mưa liên tiếp hàng tuần lại khiến cà chua bị nứt, phải đổ đi số lượng lớn. 

"Khi đó, mẹ lên thăm tôi ở Mộc Châu, bà vừa đi hái những quả cà chua còn sót lại, vừa khóc. Và đã có những lúc tôi suy nghĩ hay trở về Hà Nội, sống cuộc sống trước kia", anh kể lại. 

Tuy nhiên, cái giá anh phải trả đã quá đắt nên việc từ bỏ cũng không dễ dàng. Đúng thời điểm đó, Viện Rau quả Việt Nam mới được chuyển giao kỹ thuật lai ghép cà chua lên gốc cà tím từ trung tâm phát triển rau thế giới nhưng chưa có đối tác dám nhận thử nghiệm. Anh Dư quyết định mạo hiểm thêm một phen mặc dù chi phí đầu tư cho dự án này không phải nhỏ.

"Việc triển khai một dự án mới, vốn sẽ huy động từ đâu, tổ chức, sắp đặt sản xuất ra sao, đầu ra của sản phẩm thế nào... là những câu hỏi không dễ tìm được câu trả lời. Cuối cùng sau nhiều ngày trăn trở, tôi tính sẽ vay tiền để làm, mặc dù lúc đó cũng rất run", anh nói. 
Anh cũng lý giải, việc ghép cây cà chua lên gốc cà tím sẽ hạn chế được bệnh héo xanh, một bệnh phổ biến nguy hiểm mà người trồng cà chua vụ sớm không thể tránh khỏi. Để thực hiện kế hoạch mới, anh vay một tỷ đồng từ bạn bè, gia đình để làm nhà kính và sản xuất cà chua giống ghép trên cây cà tím trên diện tích ban đầu là 8.000 m2.  

Không lâu sau đó, anh đã thành công khi ghép được 18.000 cây giống đưa ra thị trường. Năm 2012 anh Dư đã quyết định thành lập Công ty cổ phần GreenFarm.
"Khi đã làm được sản phẩm có giá trị mang tính chất hàng hóa đưa ra thị trường thì mặt hàng đó cũng cần một cái tên, một địa chỉ giao dịch... mới tiến xa được", anh lý giải về quyết định của mình. 

Hiện diện tích sản xuất của Green Farm đã được mở rộng và công suất ghép hàng năm được 2,5 triệu cây giống, với giá bán 1.200 đồng mỗi cây. Ngoài ra, anh còn phát triển thêm diện tích hơn 1,5ha trồng rau an toàn cung cấp cho các nhà bán lẻ ở khắp nhiều tỉnh thành. Anh cho biết, năm 2013, doanh thu từ tiền cây giống ghép khoảng 3 tỷ, sau khi trừ các chi phí thì lợi nhuận đạt trên một tỉ đồng. Còn lợi nhuận từ sản xuất rau an toàn vào khoảng 300 triệu.

Trong năm nay, anh Dư dự định sẽ nâng công suất ghép giống lên khoảng 3 triệu cây cà chua và mở rộng diện tích sản xuất rau an toàn lên khoảng 5 ha. 
Vnexpress

Friday, September 26, 2014

Giám đốc vùng bỏ việc nghìn đô đi bán rau online

10 năm làm việc cho công ty nước ngoài, Mai Thị Thúy Hằng có vị trí mà nhiều người mơ ước – giám đốc quản lý chất lượng vùng Nam Á và Nam Phi của một công ty nước ngoài.


Nhưng cô vẫn quyết định từ bỏ để thỏa đam mê làm nông nghiệp sạch. Trong những chuyến từ thiện khi còn làm cho công ty nước ngoài về miền Tây, Hằng nhận thấy môi sinh của người dân bị tác động bởi hóa chất nông nghiệp, cô tự hỏi liệu có thể làm gì để thay đổi thực trạng đó? Lúc này, Hằng lóe lên ý định bỏ việc để thực hiện kế hoạch kinh doanh cho riêng mình, nhưng vẫn băn khoăn: “Bao nhiêu người mơ ước có vị trí đó, sao mình lại nghỉ?". Rồi cô lại tự nhủ đấy là giấc mơ của người khác, không phải của mình nữa, và quyết định từ chức để làm nông nghiệp trong sự ngạc nhiên của đồng nghiệp và bạn bè.  

Hằng trích một số tiền làm quỹ dưỡng già cho bố mẹ, để lại 200 triệu làm vốn khởi nghiệp. Với số tiền này, Hằng phải lăn xuống ruộng học làm nông nghiệp. Nhiều người bạn làm  kinh doanh bảo chị dại, sao không nhập thịt, sữa về bán kiếm tiền nhanh hơn. "Nhưng quan điểm của tôi lại khác, ai cũng nhập hết thì nông sản Việt Nam chết à?”, Hằng nói.

Sau khi tính toán, Hằng về Mộc Hóa, Long An thuê nhà ở và làm kho xưởng. Cô ký hợp đồng với nông dân để trồng giống lúa Huyết Rồng và áp dụng “canh tác kết hợp lúa vịt” bằng cách thả vịt vào ruộng để kiểm soát cỏ, sâu, rầy; phân vịt bón ruộng theo phương thức sản xuất sạch. Nhưng ngay lập tức cô gặp khó khăn từ kỹ thuật trồng trọt không sử dụng hóa chất, kho vận, xử lý sau thu hoạch, thiếu nhân sự quản lý, ứng vốn cho nông dân, đến mất trắng cả mùa vụ khi thời tiết không thuận lợi...



Không chịu thua, thấy người dân xịt thuốc diệt cỏ để diệt lục bình, Hằng nhờ doanh trại bộ đội gần đó thí điểm làm phân compost từ lục bình. Thấy trấu đổ bỏ khắp nơi, cô tiến hành sản xuất lò khí hóa để tận dụng trấu. Tuy sản phẩm lò trấu nấu không dơ nồi, nhưng lại bất tiện, mỗi 50 phút phải nhồi trấu lại nên không được thị trường chấp nhận.  


Sau 2 năm rưỡi miệt mài làm, Hằng phải tạm dừng 6 tháng để tìm nguyên nhân thất bại. Sau đó, cô về Tiền Giang vừa thử nghiệm tiếp một vụ lúa-vịt, vừa làm thương lái gia cầm. Cuối cùng, Hằng nhận ra mình đã đứng sai vị trí trong chuỗi cung ứng. Ban đầu cô chỉ định tập trung vào sản xuất và bán sỉ, nhưng thị trường lúc đó chưa “chín” cho nhóm sản phẩm "thân thiện xã hội và môi trường". Do vậy, cô quyết định thành lập kênh bán hàng online XanhShop để cung ứng các nông sản sạch. Với cách làm này, Hằng tin rằng việc phổ biến khái niệm sản phẩm xanh tới người tiêu dùng sẽ thuận tiện hơn.

rau-2-JPG_1411522891.jpg
Rau củ sạch của XanhShop đắt gấp 1,5 lần so với rau củ trên thị trường, nhưng Hằng vẫn kiên định với con đường mình đã chọn.

Ban đầu, để xoay vốn, Hằng làm tư vấn giá trị bền vững cho khách hàng nước ngoài qua trang web được xây dựng đầu năm 2009. Đến cuối năm 2012, cô chính thức vận hành chuỗi cung ứng với khách hàng đầu tiên là bạn bè, đồng nghiệp. Sau khi nhận được sự hài lòng, tin tưởng, những khách hàng này đã giúp giới thiệu rộng ra bên ngoài. Ngoài ra, Hằng phát triển fanpage trên mạng xã hội bằng cách cập nhật hình ảnh, chia sẻ những câu chuyện của người nông dân và nguồn gốc sản phẩm sạch để tạo sự tin cậy, hứng thú cho khách hàng.


Nhận thấy các "nhà vườn xanh" tận dụng chất thải nông nghiệp tại chỗ để ủ phân, vừa bổ sung dinh dưỡng cho đất, vừa không gây ô nhiễm, Hằng cũng sáng tạo ra quy trình vòng tròn khép kín “chất thải từ xưởng chế biến, cá ủ phân cho vườn rau” cho trang trại của mình.


Ngoài rau củ quả, Hằng còn cung cấp ngũ cốc, thủy hải sản, gia cầm và các sản phẩm chế biến khác. Sản phẩm của Xanh được dán nhãn theo ba tiêu chuẩn: Nhãn xanh là không sử dụng hóa chất trong suốt quá trình nuôi trồng, chế biến; vàng là còn sử dụng thuốc ở một số công đoạn; trắng là không sử dụng hóa chất trong quá trình chế biến.


Hằng đánh vào phân khúc khách hàng riêng của mình là những người có ý thức về vệ sinh an toàn thực phẩm. “Xanh không có ý định phục vụ trực tiếp hết 10 triệu dân TP HCM và 90 triệu dân Việt Nam, mà chỉ muốn tạo một xu hướng sống thuận tự nhiên, tức là mùa nào thức nấy, là giảm thiểu tiến tới không sử dụng hóa chất nông nghiệp, là đa canh, xen canh. Còn độc canh là tự sát. Tôi dấn thân vào nông nghiệp vì muốn đi theo hướng đa canh”, Hằng chia sẻ.


Thời gian từ thu hoạch đến bàn ăn được rút ngắn tới mức tối thiểu nhằm giữ sản phẩm tươi ngon. Hàng được vận  chuyển  từ các tỉnh lên kho của công ty ở TP HCM và xuất ngay trong ngày. Để đảm bảo tươi ngon, Xanh Shop thường lấy hàng về vào buổi sáng cùng ngày, nhân viên bắt đầu làm việc từ 6h30 sáng.


Giá bán sản phẩm của công ty Hằng luôn cao hơn so với thị trường. Điển hình như rau mồng tơi giá 45.000 đồng/kg, rau muống 55.000 đồng... trong khi đó rau bình thường ở siêu thị có giá 7.000-8000 đồng/kg, túi rau sạch giá 36.000 đồng/kg. Ngoài ra, Hằng còn sáng tạo ra thực đơn giỏ rau xanh (10-15 loại rau) giá 200.000 đồng.


Trong ngành nông sản không hóa chất, thiếu hàng là khó khăn thường gặp phải. Có những đợt hàng xấu gặp sâu bệnh nhiều vì nhà vườn không luân canh, xen canh tốt hay nghịch mùa, Hằng phải bỏ đi hoặc bán loại 2.


“Trong nông nghiệp thuận tự nhiên, khách hàng không phải là Thượng đế. Bởi thuận tự nhiên thường không thuận lòng người. Nên số người kiên nhẫn với việc ‘có gì ăn nấy’ cũng không nhiều. Những ai đi cùng chúng tôi trên con đường này đều là bạn đồng hành vì họ đã hiểu và chấp nhận tất cả những bất tiện trên hành trình ấy", cô giải thích.


Không chỉ bán rau tươi, với nguyên liệu có sẵn như đậu, nếp... Hằng làm phong phú thực đơn với những sản phẩm độc quyền như làm bánh nhân đậu vào dịp Trung thu, làm bánh chưng dịp Tết... Theo Hằng, thương lái Việt Nam cần kết nối lại để chuỗi cung ứng hoàn chỉnh, đa dạng hóa sản phẩm, đầu tư vào công đoạn chế biến sau thu hoạch. Nếu thương lái chỉ mua đi bán lại sẽ không thay đổi cục diện ngành nông nghiệp. Ngoài "lái" thì họ phải tính thêm chế biến sản phẩm. Theo Hằng, trồng thanh long cần nghĩ tới bán nước ép, làm mứt. Trồng lúa phải tính đến bán dầu cám, thức ăn kiêng...


Công ty Hằng hiện có 6 nhân viên ở TP HCM, 3 quản lý nằm vùng miền Trung, miền Đông và miền Tây Nam Bộ có nhiệm vụ thu hoạch rau củ quả từ các vườn. Cô cũng tiết lộ đã có nguồn hàng cung ứng từ trang trại trồng thuỷ canh ở Đà Lạt, diện tích từ 1.000 m2 đến 5.000 m2.
Theo Vnexpress 

Thursday, September 25, 2014

12 cách người Israel thay đổi nền nông nghiệp thế giới (P1)

Từ tưới nhỏ giọt đến thuốc bảo vệ thực vật sinh học, cuộc cách mạng nông nghiệp của Israel đang mang đến những phương thức mới để thay đổi bộ mặt của sản xuất nông nghiệp. 

An ninh lương thực đang là vấn đề được quan tâm hàng đầu cho mọi quốc gia trong bối cảnh dân số không ngừng phát triển hiện nay. Khi mà tài nguyên đang dần cạn kiện trong khi dân số vẫn không ngừng tăng lên, vấn đề đảm bảo an ninh lương thực bền vững đang là điều mà bất cứ quốc gia nào cũng khao khát. Và cho đên nay, chưa từng có một quốc gia nào có các điều kiện canh tác nông nghiệp khó khăn hàng đầu thế giới có thể đóng góp các thành tựu để thay đổi bộ mặt nền nông nghiệp thế giới tốt hơn Israel.

Từ những năm 1950, người Israel không những chỉ tìm ra phương thức tuyệt với để phủ xanh cho những sa mạc mà họ đã chia sẻ, chuyển giao những sáng kiến này đến các quốc gia khác thông qua các tổ chức hợp tác quốc tế của họ một cách rộng rãi. Và dưới đây là 12 thành tựu của người Israel đã mang đến cho nhân loại, giúp thay đổi bộ mặt của nền sản xuất nông nghiệp toàn cầu, đem đến phương thức sản xuất hiệu quả và là cách thức để giải quyết vấn đề an ninh lương thực hiện nay.

1. Công nghệ tưới nhỏ giọt

Có lẽ không có thành tựu nào có được sự ảnh hưởng to lớn đến nền nông nghiệp Israel cũng như cả thế giới như phát minh này. Khái niệm tưới nhỏ giọt đã có từ trước khi nhà nước Israel ra đời, nhưng nó chỉ được thực sự trở thành cuộc cách mạng với sự phát hiện của kỹ sư tài nguyên nước Israel - Simcha Blass, người tình cờ phát hiện ra rằng sự nhỏ giọt chậm và đều đặn dẫn đến khả năng kích thích tăng trưởng đáng kể trên thực vật. Từ phát hiện trên, ông đã chế tạo ra một loại ống dẫn nước có các đầu tưới từ từ nhỏ từng giọt nước theo tỷ lệ tối ưu nhất cho từng loại cây trồng.

Từ đó đến nay, công nghệ tưới nhỏ giọt của Israel và các giải pháp tưới tiêu vi thủy lợi nhanh chóng lan rộng trên toàn thế giới. Chúng liên tục được phát triển, làm cho tốt hơn, các mô hình tưới nhỏ giọt mới nhất là công nghệ tự làm sạch đường ống và duy trì tốc độ dòng chảy thống nhất bất kể chất lượng nước và áp suất nước trong hệ thống tưới.
Một ví dụ rất nhỏ để thấy được ý nghĩa của công nghệ này đến nền nông nghiệp của các quốc gia là hệ thống Tipa, có nghĩa là "nhỏ giọt", một sản phẩm của Israel phát triển cho thị trường nước ngoài đã cho phép 700 hộ nông dân ở Senegal có thể canh tác ba vụ một năm thay vì chỉ một vụ mỗi năm vào mùa mưa, đối với cả những vùng đất tưởng chừng không thể trồng trọt được. Các kết quả tương tự ở Kenya, Nam Phi, Benin và Nigeria có thể chứng minh hiệu quả của hệ thống này.
Senegalese farmers learning how to install the Tipa irrigation kit.
Hình: Nông dân Senegal và hệ thống tưới nhỏ giọt Tipa

2. Kén tồn trữ lương thực

Người Israel đã thiết kế sản phẩm kén tồn trữ lương thực nhằm đưa ra một giải pháp đơn giản, rẻ tiền cho các nông dân châu Á và châu Phi để tồn trữ lương thực sau thu hoạch một cách hiệu quả nhất.

Sản phẩm này chỉ đơn giản là một chiếc túi khổng lồ - được thiết kế bởi Giáo sư công nghệ thực thẩm quốc tế Shlomo Navarro - giúp lương thực tránh được việc tiếp xúc với không khí và độ ẩm. Nó đang được sử dụng rộng rãi ở các nước đang phát triển tại châu Phi, Trung Đông và cả những quốc gia không có quan hệ ngoại giao với Israel như Pakistan.
Với các phương pháp tồn trữ lương thực truyền thống, 50 % lượng ngũ cốc thu hoạch được và 100% sản lượng đậu bị tổn thất là do côn trùng và ẩm mốc. Tại các quốc gia đang phát triển, nông dân chỉ tồn trữ lương thực họ thu hoạch được bằng các phương tiện thô sơ như giỏ, bồ, túi, bao tải, những thứ không thể bảo vệ lương thực của họ thoát khỏi sự đói khát của côn trùng và các tác nhân gây hại từ bên ngoài. Và sản phẩm kén tồn trữ lương thực sinh ra để giải quyết các vấn đề đó, đặc biệt là sức nóng và độ ẩm cao.
The Cocoon stores crops safely.
Hình: Kén tồn trữ lương thực.

3. Kiểm soát côn trùng theo phương pháp sinh học

Các kỹ sư Israel đã lai tạo ra các giống côn trùng có ích nhằm giải quyết vấn đề kiểm soát sâu bệnh tuân theo các nguyên lý sinh thái học tự nhiên, đồng thời họ cũng lai tạo các giống công trùng chuyên biệt như giống ong vò vẽ chuyên thực hiện thụ phấn tự nhiên trong môi trường nhà kính.

Theo Tiến sĩ Shimon Steinberg của cơ quan ISRAEL21c, việc sử dụng giống nhện kích thước chỉ dài 2mm hình quả lê màu cam hiện đang là giải pháp hiệu quả nhất để kiểm soát tình trạng bọ ký sinh trên cây trồng, kể cả các loại bọ tàn phá cây trồng nông nghiệp rất khó bị loại trừ bằng các phương pháp hóa học. Ông cho biết: "60% sản lượng dâu tây của California từ năm 1990 đến nay đã được cứu bằng các giống nhện ăn thịt bọ ký sinh từ Israel", ông cũng cho biết, tại Israel, các sản phẩm sinh học đã cho phép nông dân giảm việc sử dụng thuốc trừ sâu hóa học đi 75% trong canh tác.

4. Công nghệ chăn nuôi bò sữa công nghiệp

Israel là quốc gia đã phát triển các công nghệ chăn nuôi bò sữa tập trung theo quy mô công nghiệp đầu tiên trên thế giới, đây là những hệ thống cho phép người chăn nuôi có thể quản lý, theo dõi, giám sát và cho ăn đàn gia súc tập trung thông qua các thiết bị máy tính. SAE Afikim là một trong 10 công ty của Israel đã tham gia vào dự án 5 năm trong việc phát triển đàn bò sữa trị giá 500 USD tại Việt Nam, đó là sự án chăn nuôi lớn nhất thế giới mà họ tham gia. Trong dự án này các hoạt động sẽ bao gồm phát triển đàn bò 30.000 con tại 12 vùng chuyên canh chăn nuôi – sản xuất sữa tập trung với sản lượng 300 triệu lít mỗi năm và tăng dần qua các năm. Đến cuối năm 2012, 500.000 lít sữa đã được sản xuất hàng ngày.
The Chinese are using Israeli systems to set up their dairy industry.
Hình: Một phần công nghệ chăn nuôi bò sữa

5. Nông nghiệp trực tuyến

Đó là Hệ thống Kiến thức nông nghiệp trực tuyến (Agricultural Knowledge On-Line (AKOL), đây là một hệ thống tương tác trực tuyến trên toàn cầu, nó liên kết kho dữ liệu về kiến thức nông nghiệp, các chuyên gia và nông dân để giải quyết bất cứ một vấn đề gì trong nông nghiệp. Mọi nông đân giờ đây có thể truy cập vào hệ thống này, học hỏi các kiến thức, kinh nghiệm và yêu cầu sự giúp đỡ, tư vấn phương pháp, giải pháp nông nghiệp từ các chuyên gia hàng đầu, các nhà sản xuất nông nghiệp chuyên nghiệp về vấn đề của họ.

6. Giống khoai tây có thể trồng ở những nơi khắc nghiệt

Phải mất gần 30 năm nghiên cứu, Giáo sư David Levy developedstrains của Đại học Hebrew mới lai tạo được giống khoai tây có thể phát triển mạnh trong khí hậu nóng, khô, và có thể được tưới bằng nước mặn. Đây là giải pháp trồng trọt vô cùng hiệu quả và mang lại lối thoát cho việc canh tác tại các vùng cát sa mạc, ven biển.

Khoai tây là một trong những nguồn lương thực chính của hàng triệu người trên thế giới, nhưng trước đây người ta không thể trồng được một củ khoai tây nào trong các vùng sa mạc như Trung Đông. Bây giờ nông dân ở các khu vực này có thể phát triển khoai tây là một loại cây trồng đem lại lợi ích kinh tế lớn.
Theo Infonet

Monday, September 22, 2014

Kỳ tích nông nghiệp Israel: Nuôi cá trên sa mạc

Dù ngành nông nghiệp chỉ sử dụng 3,7% số nhân lực quốc gia, Israel SX vẫn đảm bảo 95% nhu cầu lương thực, thực phẩm.

Nông nghiệp là một ngành phát triển cao ở Israel: Nước này là nhà xuất khẩu các sản phẩm tươi sống quan trọng, quốc gia hàng đầu thế giới về công nghệ nông nghiệp dù điều kiện tự nhiên không thuận lợi cho SXNN.

Hơn một nửa diện tích Israel là sa mạc, khí hậu không thuận lợi, thiếu nguồn nước. Chỉ 20% diện tích đất của Israel là trồng trọt được tự nhiên (tức không cần phải cải tạo đất hay những tác động nhân tạo). Ngày nay, ngành nông nghiệp chiếm 2,5% GDP và 3,6% kim ngạch xuất khẩu.

Dù ngành nông nghiệp chỉ sử dụng 3,7% số nhân lực quốc gia, Israel SX đảm bảo 95% nhu cầu lương thực, thực phẩm, chỉ nhập ngũ cốc, hạt có dầu, thịt, cà phê, ca cao và đường. Loạt bài này sẽ giới thiệu vài nét về ngành nông nghiệp rất phát triển của Israel.

Vào thời điểm nguồn cá biển bị đe dọa khắp nơi trên thế giới, những người nuôi cá ở Israel đã và đang phát triển những công nghệ nuôi mới, tiên tiến, những phương pháp tạo giống cách mạng hóa cả ngành nuôi trồng thủy sản của nước này.

Lấy nước mặn từ lòng đất

Phải đối mặt với vấn đề khan hiếm nguồn nước trong vùng sinh thái sa mạc, chính phủ Israel đã quyết định tổ chức những kibbutzim (một dạng hợp tác xã trong nông nghiệp) nuôi trồng thủy sản và gần đây là “Dagim”, tức Hiệp hội Những người nuôi cá, để đẩy mạnh một ngành nuôi trồng thủy sản theo hướng đảm bảo sức khỏe, thân thiện với môi trường và mang lại lợi nhuận cao.

Ngày nay, nếu tìm hiểu một chút về ngành công nghiệp nuôi thủy sản đang phát triển mạnh của Israel, bạn dễ dàng nhận thấy ngành này có bề dày lịch sử và có tốc độ phát triển rất nhanh và mang tính ứng dụng cao. Kết quả là những phát minh mới, chất lượng thủy sản được cải thiện, gia tăng kim ngạch và có lẽ quan trọng nhất là đánh giá và xác lập bản đồ sử dụng nguồn nước của Israel, phân định rõ những vùng nước được sử dụng và những hồ chứa dự trữ.

Chuyên gia nuôi trồng thủy sản Yankele Peretz cho hay nhu cầu đối với một số loại cá nước ngọt của Israel, chủ yếu là cá chép, bắt đầu từ hàng chục năm trước. Vào cuối những năm 1930, những người Do Thái ở Đông Âu mang một số giống cá về Israel và bắt đầu thử nuôi trong ao. Năm 1939, những cái ao nuôi ở “hợp tác xã” (kibbutz) Nir David, Ma’ayan Affek và Bet HaArava, nơi sông Jordan chảy vào biển Chết, đã gặt hái những thành công đầu tiên. Người nuôi cá nhanh chóng học được cách nuôi và kiểm soát việc sinh sản của cá.

Sau khi Israel giành độc lập năm 1948, nhiều kibbutz bắt đầu nuôi cá theo hình thức trang trại.
“Những cuộc thăm dò địa chất, nguồn nước đã được tiến hành ngay sau ngày độc lập cho thấy vùng hoang mạc và bán hoang mạc Negev cũng như thung lũng Arava có rất nhiều muối và nước nóng chảy ngầm”, tác giả Shmuel Rothbard viết trong nghiên cứu gần đây có tựa đề “Nuôi cá rô phi ở vùng Negev”.

Nóng lòng mở rộng phạm vi sinh sống cho người dân xuống khu vực phía nam vốn bị người Thổ Nhĩ Kỳ và những chính phủ do Anh bổ nhiệm cho là không thể ở được trong thời kỳ trước đó, người Israel đã nỗ lực tìm các phương pháp lấy nước mặn từ lòng đất và bắt đầu xây dựng những hệ thống tái chế nước. Mục tiêu của họ là kết hợp nuôi thủy sản và trồng trọt, tối đa hóa hiệu quả sử dụng nước, cải tạo, vỡ hoang đất từ hoang mạc.

Ngày nay, nhờ vào những nỗ lực ban đầu ấy, “hơn 10 trang trại nuôi cá quy mô cực lớn đã được xây dựng ở nhiều vùng của Negev”, Rothbard viết. Nước từ lòng đất được dẫn vào nuôi cá rồi sau đó được dùng phục vụ tưới tiêu cho hoa màu.

Những hồ nuôi cá giờ đây có khắp Israel, nhiều giống cá mới được giới thiệu. Người Israel nuôi cá chép, rô phi, trắm cỏ, cá đối đầu dẹt (cá đối nục), cá vược, cá mè, cá hồi và một số loài cá cảnh.

Tuy nhiên, không phải ngành nuôi cá của Israel không gặp khó khăn. “Nhiều trang trại ở vùng hồ Galilee bị bỏ hoang khi giá nước tăng cao”, thư ký Hiệp hội Nuôi cá Israel Yossi Yaish nói. “Vùng Galilee có nguồn nước ngọt uống được và không thể dùng nguồn nước quý giá ấy đi nuôi cá”.

Thúc đẩy bảo vệ nguồn nước

Chính phủ không hỗ trợ ngành nuôi cá như đối với các ngành trồng trọt và chăn nuôi khác. Giá cá không được ấn định như trứng, gia cầm hay thịt. “Nhà nước trái lại tập trung hỗ trợ thông qua tập huấn, đào tạo, đầu tư nghiên cứu và bảo hiểm thiên tai”, Yaish nói.

Chìa khóa cho thành công của ngành nuôi trồng thủy sản Israel nằm ở việc biết được ở đâu có nguồn nước dồi dào, biết cách tối đa hóa lợi ích của từng giọt nước. Tiến bộ công nghệ quan trọng nhất của nước này trong việc nuôi thủy sản là hiện thực hóa ý muốn nuôi cá bằng nguồn nước dự trữ chiến lược hiếm hoi theo cách thông minh nhất.

“Vì thiếu nước”, Yaish giải thích, “nhiều hồ chứa được xây dựng để lấy nước vào mùa đông và cung cấp nước cho mùa mang vào mùa hè”. Những người nuôi cá đã lanh lẹ tận dụng những hồ chứa này cho việc của mình. Nguồn nước này rất phù hợp với sự sinh trưởng của cá và việc nuôi cá trên hồ nước đã tối đa hóa lợi nhuận, kết hợp được cả chăn nuôi và trồng trọt.

Ông Yaish cho rằng việc nuôi cá như vậy không gây hại cho môi trường và hệ sinh thái. “Bảo vệ môi trường là điều kiện cơ bản đổi với ngành nuôi cá”. Ngành nuôi thủy sản đã thúc đẩy việc ứng dụng các công nghệ xử lý nước khắp Israel cũng như khuyến khích việc bảo tồn nguồn nước.

Hơn nữa, việc chú ý chất lượng cá đã giúp Israel cải thiện chủng loại cá nước ngọt bản địa. “Israel là nước đầu tiên nuôi cá rô phi hoang dã từ sông Jordan. Loài này có khả năng kháng bệnh tốt và tốc độ sinh trưởng cao”, Yaish nói.

Hiện mỗi năm ngành nuôi cá ở Israel SX 20.000 tấn cá. Với giá cả hiện tại khoảng 3,5USD/kg, ngành nuôi cá có doanh thu 70 triệu USD/năm. Người nuôi cá nước này hy vọng sớm chiếm lĩnh thị trường châu Âu, đa dạng hóa sản phẩm, thậm chí là phát triển du lịch trang trai thủy sản.

Trong khi đó, Hiệp hội Những người nuôi cá Israel đã xây dựng mạng lưới hỗ trợ đối với tất cả những ai muốn tham gia nuôi thủy sản. Hiệp hội làm việc trực tiếp với Bộ Nông nghiệp để giúp đào tạo nghề, kết nối các trang trại và kibbutz.
Theo Nông Nghiệp Việt Nam 

Saturday, September 20, 2014

Cựu vận động viên quyền anh làm giàu từ trồng gấc

Vị giám đốc chưa đến 30 tuổi nhưng đã có 10 năm lập nghiệp từ nghề trồng gấc. Đến nay, công việc kinh doanh của anh phát triển sang nhiều lĩnh vực khác, mang lại lợi nhuận hàng tỷ đồng.

Sinh năm 1986 tại Bắc Giang, sau đó lớn lên tại Hà Nội nhưng anh Ngô Sỹ Đạt từng theo học trường Văn hóa thể thao Hà Nội (nay gọi là trường Năng khiếu Thể thao Hà Nội) và đã trở thành vận động viên quyền anh quốc gia. Có lúc đã xác định đây là nghiệp theo đuổi nhưng sau 3 năm gắn bó, anh nhận thấy khó có thể làm giàu từ nghề này.

"Hơn nữa, hoạt động thể thao cũng chỉ có thời, phát triển được vài ba năm thôi nên năm 2005 mình quyết định từ giã nghiệp quyền anh và quyết định về quê trồng gấc. Đây cũng là thời điểm gia đình mình đang gặp khó khăn về kinh tế", Đạt kể lại.  

Anh cho biết, ý tưởng làm giàu từ gấc nảy ra sau một lần tình cờ xem chương trình truyền hình, với khách mời là một doanh nhân thành đạt từ cây trồng này. Lúc đó Đạt có ý nghĩ, tại sao mình lại không bắt đầu từ công việc đó. 
Tuy nhiên, mọi người trong gia đình đều không dám tin kế hoạch của anh sẽ thành công. Bố Đạt khi đó còn cho rằng, cậu con trai lớn lên ở thành phố, chưa hề nhúng tay vào công việc đồng áng, trồng trọt thì khó mà triển khai được, hơn nữa lại còn mong làm giàu từ đó. 

Đầu năm 2006, Đạt về khu đất hơn 20.000m2 của gia đình ở làng Quế, xã Hướng Đạo, Tam Dương (Vĩnh Phúc) để trồng thử nghiệm hơn 200 gốc gấc. Chàng trai 20 tuổi lớn lên ở thủ đô tự tay đào đất, đóng cọc tre làm giàn cho cây.

Tuy nhiên, do trồng đúng lúc trời nắng nên cây gấc cứ héo úa. Đạt tưởng mình thất bại nên tìm mua cả giống cây susu về trồng lấy ngọn và quả đem bán để có nguồn thu. Đến mùa mưa, vườn gấc mới tươi tốt trở lại và phát triển tốt. Lúc đó, anh mới mày mò đi tham khảo, học hỏi thêm nhiều mô hình trồng gấc ở các tỉnh và tìm đầu ra cho sản phẩm.

Được sự hỗ trợ kỹ thuật của một viện nghiên cứu anh quyết định mở rộng thêm diện tích và nhập thêm giống về trồng. Một năm sau, vườn gấc được thu hoạch và cho doanh thu khi đó là 80 triệu đồng. 

Những năm sau đó anh mày mò tìm thêm được đầu ra sản phẩm nên ngày càng phát triển số gốc cây, đồng thời động viên bà con quanh vùng trồng gấc. "Khi đó, nhận thấy nhu các doanh nghiệp dược phẩm có nhu cầu lớn về gấc, mình đã tìm hướng để chào bán sản phẩm. Từ đó đến nay, anh mình vẫn duy trì hợp đồng cung cấp cho họ. Có thời điểm không đủ hàng để cung ứng", anh kể lại.   

Không chỉ ở Vĩnh Phúc, Đạt còn phát triển vùng nguyên liệu đi các tỉnh thành khác và đến mùa thu hoạch lại đi thu gom về sơ chế rồi cung cấp cho doanh nghiệp. Để thuận lợi cho công việc kinh doanh, tháng 3/2008, Công ty TNHH Gấc Việt được thành lập. 

Đến năm 2011, anh có thêm một số kế hoạch mới như cung cấp gỗ nghiền cho các doanh nghiệp đốt lò hơi cho doanh nghiệp sữa và thu mua cam từ Hà Giang về bán . Do đó anh quyết định chuyển về phát triển vùng nguyên liệu gấc tại Yên Thế, Bắc Giang. Còn trên Vĩnh Phúc anh chuyển sang trồng cam canh.

Anh cho biết, hiện mỗi năm thu mua khoảng 500 tấn gấc nguyên liệu và bán cho doanh nghiệp dược với giá dao động từ 150.000 đến 200.000 đồng mỗi kg loại sơ chế. Ngoài vụ thu mua gấc và cam vào khoảng 3-4 tháng cuối năm, công việc cung cấp gỗ nghiền vẫn được duy trì. Những năm làm ăn thuận lợi, việc kinh doanh của anh có thể đạt được lợi nhuận một tỷ đồng. 

Vị giám đốc trẻ cũng cho biết, khi còn nhỏ, gia đình gặp khó khăn về kinh tế nên anh bỏ học rất sớm, khi chưa hết lớp 10. Do đó, để điều hành tốt công việc kinh doanh, anh đã trang bị kiến thức cho mình bằng việc tham gia thêm các khóa đào tạo ngắn hạn tại các trường đại học.
Vnexpress

Trồng chuối xây nhà lầu, mua xe hơi

Tôi gặp Phạm Năng Thành lần đầu khi anh là 1 trong 5 nông dân của tỉnh Hưng Yên về Hà Nội dự Hội nghị biểu dương nông dân điển hình tiên tiến toàn quốc lần thứ IV (tháng 5.2012). “Trong 2 năm đó, vợ chồng em nâng diện tích trồng chuối từ 10ha lên gần 20ha; xây căn biệt thự khang trang và sắm xe hơi...” - Thành chia sẻ trong lần gặp lại tôi mới đây.
 
 Phạm Năng Thành dùng túi nylon bao bọc buồng chuối khi còn non để quả chuối sau này sáng vỏ, mã đẹp 

Đi xuyên qua bãi chuối nhà Phạm Năng Thành, nhiều người bảo đi sát gần nhau kẻo bị lạc giữa cơ man những hàng chuối. 

Chinh phục cây chuối 

Khi theo dõi quá trình làm kinh tế của Phạm Năng Thành, nhiều người cảm nhận được ở anh một tinh thần cầu thị, ham học hỏi và mạnh dạn áp dụng những tiến bộ kỹ thuật mới nhằm tăng năng suất, sản lượng, chất lượng chuối thành phẩm.

Những năm đầu tiên trong nghề, cũng như nhiều hộ khác vùng bãi sông Hồng, Phạm Năng Thành trồng chuối tiêu hồng mà giống được lấy từ chính những cây con do gốc cây mẹ đẻ ra.

Bắt đầu từ năm 2012, Thành trồng chuối tiêu hồng, chuối tây từ cây giống cấy mô và đây chính là bước đột phá giúp anh thành công. Cùng một điều kiện chăm bón, chuối cấy mô cho năng suất cao hơn từ 20-30% so với chuối trồng bằng cây con lấy từ gốc cây mẹ.

Anh Thành cho biết: “Giống chuối từ nuôi cấy mô có ưu thế là sạch bệnh, sinh trưởng khỏe, nhưng yêu cầu kỹ thuật chăm bón phải tốt. Nếu không chăm bón đúng kỹ thuật, năng \suất chuối cấy mô cũng chỉ bằng chuối trồng bằng cây con.

Chính vì điều này nên những hộ trồng nhỏ, lẻ hoặc chưa có nhiều kinh nghiệm chỉ chọn chuối từ cây con lấy từ gốc cây mẹ”. Có kỹ thuật, anh Thành áp dụng thành công, nhưng cũng có những giải pháp kỹ thuật khi thử nghiệm không đạt như ý muốn.

Chẳng hạn, trong 2 năm 2011-2012, Thành hợp tác với một viện khoa học nông nghiệp sử dụng chế phẩm sinh học làm chậm quá trình chín của quả chuối. Song thí điểm trên đã không thành công khi chuối… không chín được luôn, mà cứ đen dần. Từ năm 2013, Thành đã mạnh dạn tìm hiểu và áp dụng quy trình kỹ thuật trồng chuối theo tiêu chuẩn VietGAP. “Áp dụng tiêu chuẩn VietGAP là để phục vụ cho mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ…” - Thành thổ lộ. 

90% chuối được bán trong nước 

Thành là người cẩn trọng, ngay từ ngày đầu anh đã xác định dù có mở rộng diện tích trồng chuối và tăng sản lượng thu mua chuối thành phẩm đến đâu cũng phải xuất phát từ việc xây dựng thị trường tiêu thụ trong nước. Điều này rất khác so với nhiều người trồng chuối hiện nay vẫn trông chờ và chú trọng vào thị trường Trung Quốc.

“Những ngày đầu, vợ chồng em ngược xuôi lo bán cây chuối giống, bán chuối buồng. Đặt chân tới tỉnh nào là xác định gây dựng được hệ thống đại lý ở ngay địa phương đó. Cứ thế, từ một vài tỉnh rồi lan ra dần dần. Đến nay, hệ thống đại lý tiêu thụ chuối của gia đình em đã trải rộng từ Bắc chí Nam, lên tận Tây Nguyên...” - Thành nhớ lại.

Chính vì xây dựng được thị trường nội địa ổn định nên sản lượng tiêu thụ chuối tăng lên từng năm. Hiện hơn 90% sản lượng chuối do Thành trồng và thu mua trong vùng là để tiêu thụ nội địa. Thành chỉ xuất bán sang thị trường Trung Quốc khi giá bán tốt, có đơnhàng rõ ràng và giao tiền trước. Bởi theo Thành, thị trường Trung Quốc khá rủi ro, lúc họ mua rầm rộ thì giá cao, nhưng đột ngột ngừng thu mua thì giá rớt thê thảm. Chính vì vậy, phải tính toán kỹ và nắm được phần thắng trong tay thì mới làm ăn với thương lái Trung Quốc.

Xác định thị trường trong nước là chủ đạo, nên Thành đang gấp rút hoàn thiện áp dụng quy trình trồng chuối theo tiêu chuẩn VietGAP và đăng ký nhãn hiệu trang trại chuối “3T”. Đó cũng là những bước Thành chuẩn bị kỹ cho việc mở rộng thị trường tiêu thụ trong nước qua hệ thống cửa hàng bán thực phẩm an toàn và siêu thị. “Tôi đã vào nhiều siêu thị tham khảo, trong đó họ bày bán một loại chuối tiêu nhập từ Philippines. Chuối mã đẹp, nhưng ăn chua và bở, tiêu thụ được qua hệ thống siêu thị là bởi mẫu mã đẹp và có đăng ký nhãn hiệu.

Thành đã tự đặt câu hỏi: “Chuối tiêu hồng của Việt Nam quả chín vàng tươi, ngọt sắc và thơm tại sao lại không tiêu thụ được trong siêu thị? Chuối Philippines bán giá 37.000 đồng/kg, chuối tiêu hồng của Việt Nam chỉ cần bán với giá 18.000-20.000 đồng/kg là đã thắng rồi”. 

Đi sau nhưng bước nhanh 

Sinh năm 1979 ở thôn Ninh Tập, xã Đại Tập, trong nghề trồng chuối đất Khoái Châu, Phạm Năng Thành là người đi sau. Khi cây chuối tiêu hồng đưa từ đất Lý Nhân (Hà Nam) về bén rễ trên cánh đồng bãi Khoái Châu, Thành mới 16 tuổi. Mấy năm đi Nam làm thuê vất vả, Thành quay trở lại quê nhà. Vườn nhà Thành lúc ấy đang được bố anh trồng cam Vinh, bưởi Diễn. Sau khi học hỏi kinh nghiệm trồng chuối từ những bậc đàn anh đi trước, Thành quyết định thay cây cam, bưởi bằng cây chuối tiêu hồng.

Năm 2004, anh trồng thử 10 sào. Thành nhớ lại: “Ngày ấy vất vả lắm, trồng được buồng chuối vợ chồng lại phải vận chuyển ra bến phà qua sông Hồng sang bên Hà Nội để bán. Có chuyến bán chậm, có chuyến bán nhanh, nhưng tựu trung lại cây chuối vẫn cho nhiều tiền hơn cam, bưởi. Hơn nữa, tôi thấy khỏe nhất là trồng chuối không phải dùng thuốc sâu như trồng cam, bưởi…”.

Hiệu quả kinh tế cao nên có bao nhiêu đất ruộng, đất vườn Thành đều cho trồng chuối. Đất nhà hết, Thành đi thuê, mua lại ruộng vườn của nhiều hộ khác trong xã để trồng chuối. Năm 2011, Thành đã có hơn 10ha đất trồng chuối với doanh thu hơn 3 tỷ đồng. Năm 2014, diện tích trồng chuối của vợ chồng anh đã lên tới xấp xỉ 20ha với doanh thu ước đạt hơn 7 tỷ đồng.

Trong số gần 20ha đất trồng chuối hiện nay của Thành, thì có tới hơn 1/3 diện tích trồng chuối tây cấy mô. Cũng như chuối tiêu hồng cấy mô, chuối tây cấy mô phát triển khỏe, ra hoa kết trái và cho thu hoạch đồng loạt. Ở thời điểm giá cao, 1 buồng chuối tây có giá tới vài trăm ngàn đồng. Ngoài bán quả, việc bán hoa chuối cũng giúp anh thu về được số tiền kha khá.

Ở tuổi 35, Phạm Năng Thành đã có trong tay nhiều thứ như nhà lầu, xe hơi, một gia đình hạnh phúc. Trong mắt các bậc đàn anh nghề trồng chuối, Thành là người đi sau nhưng có bước đi nhanh, bền vững.

  Trang trại trồng chuối và công việc kinh doanh chuối của anh Phạm Năng Thành đang tạo việc làm thường xuyên cho 40 lao động với mức lương trung bình 4,5 triệu đồng/người/tháng. Thành cũng là một trong những nông dân giỏi tích cực giúp đỡ, hỗ trợ các hộ khác trong và ngoài xã cùng phát triển nghề trồng chuối.  
 Theo Dân Việt