Showing posts with label kỹ năng mềm. Show all posts
Showing posts with label kỹ năng mềm. Show all posts

Friday, October 24, 2014

11 bài học cuộc sống trường đại học không dạy bạn

Trường đời dạy cho bạn nhiều điều hơn bất cứ trường đại học nào mang lại. Cuộc sống không hề màu hồng như khi bạn còn là sinh viên, cũng không dễ dàng như bạn nghĩ.

Trường đại học là nơi chúng ta phải đối mặt với những khó khăn của người mới bắt đầu, cũng là nơi tìm thấy bạn bè tốt. Điều tuyệt vời nhất khi học đại học là ta nhận ra mình là ai. Chúng ta được quyền lựa chọn hệ tư tưởng và nhận thức về cuộc sống. Tuy nhiên, vẫn có 11 bài học sau mà trường đại học không dạy bạn:
 Ảnh: lifehack
1. Các kiến thức trong khóa học và lớp học có thể không được sử dụng nhiều 

Những nhân viên văn phòng bên cạnh có thể không tham gia những khóa học mà bạn đã học. Hai người thuộc nền tảng học vấn khác nhau, nhưng hai bạn vẫn được tôn trọng và kiếm được số tiền như nhau. Sẽ không ai hỏi lại xem bạn đã học gì trong trường đại học, nhưng bạn phải dùng những kiến thức và trải nghiệm đó để hoàn thành những nhiệm vụ được giao. Những năm tháng học đại học đã trôi qua, bây giờ cuộc sống nằm ngoài bài giảng và giáo trình.

2. Trong cuộc sống, tài năng mới là quan trọng

Cấp trên của bạn có thể trẻ hơn bạn, tuy nhiên bạn sẽ phải gọi người ấy là “sếp”. Trong trường đại học, một sinh viên khóa dưới có thể già hơn bạn nhưng vẫn tôn trọng bạn, vì bạn là sinh viên khóa trên. Trong cuộc sống thực, sự tôn trọng dựa trên thực tài.

3. Nghệ thuật giao tiếp

Bạn có thể đã học các khóa phát triển nhân cách ở trường đại học nhưng trong cuộc sống bạn sẽ nhận ra tầm quan trọng của giao tiếp tốt. Bạn có thể cần phải cầu hôn một cô gái, muốn xin tăng lương, hoặc muốn thảo luận vấn đề nào đó với hàng xóm. Kỹ năng giao tiếp có thể quyết định thành bại trong cuộc sống.

4. Làm thế nào để đánh giá đúng một con người

Ở trường đại học một người có thể là bạn hoặc kẻ thù của bạn, nhưng trong cuộc sống bạn không thể đoán định mối quan hệ giữa hai người là gì. Một người bạn tốt trong văn phòng cũng có thể làm mất cơ hội thăng tiến của bạn.Vì vậy, bạn phải học cách xác định các đặc điểm của những người xung quanh. Hành động có thể mâu thuẫn với lời nói.

5. Bạn phải xem lại chính mình, những gì bạn nói, cách bạn nói và nói với ai

Ở trường đại học bạn có thể tranh cãi với bạn bè hôm nay, ngày mai lại thân thiện bên người ấy. Nhưng trong cuộc sống đó là một câu chuyện khác. Ở trường đại học bạn bè và những người khác hiểu bạn qua lời nói, nhưng trong cuộc sống mọi người sẽ hiểu bạn theo nhận thức của họ chứ không phải qua mỗi lời bạn thốt ra.  

6. Mạng lưới mối quan hệ luôn giúp ích cho bạn

Ở trường đại học bạn bè là cả thế giới của bạn. Nhưng trong cuộc sống, bạn không thể tồn tại mà không cần đến mạng lưới mối quan hệ. Bạn cần giới thiệu việc làm, một ngôi nhà mới, gây dựng một doanh nghiệp, thành lập nhóm các nhà hoạt động xã hội... Điều này có nghĩa là bạn cần quan hệ tốt với mọi người.

7. Tiết kiệm tiền không phải là dễ dàng

Bạn muốn tận hưởng và khám phá cuộc sống, bạn muốn ở tầm cao 900 m trên bầu trời. Bạn muốn thưởng thức rượu vang đỏ trong một vườn nho, hay trải nghiệm lặn biển với san hô và sinh vật biển. Để đến với bất kỳ cuộc phiêu lưu nào, bạn cần tiết kiệm tiền, mà tiết kiệm tiền không phải là chuyện dễ dàng. Tiền lương của bạn hàng tháng sẽ phải trang trải rất nhiều thứ như mua thức ăn, quần áo, trả tiền hóa đơn, đến thăm cha mẹ... Và bạn sẽ nhận thấy rất ít tiền sẽ còn sót lại để tiết kiệm cho sau này.

8. Trong các mối quan hệ, hành động nói lên tất cả

Khi còn học đại học, một tình yêu lãng mạn được thể hiện bằng những lời hứa ngọt ngào. Nhưng trong cuộc sống thực, hành động mới nói lên tất cả. Bạn nhìn vào một người; bạn quan sát hành động của anh/cô ấy và nhận thấy anh/cô ấy là người như thế nào. Vì vậy, hãy cẩn thận trong những từ ngữ mà bạn sử dụng, cũng như hành động, cử chỉ của bạn.

9. Sai lầm cũng được, miễn là không lặp lại

Mỗi sai lầm cho phép bạn học được một điều gì đó. Sai lầm để lại cho bạn một bài học. Thành công chỉ đến khi bạn có những sai lầm khác nhau, mỗi lần như vậy, bạn sẽ có được một bài học mới. Ở trường đại học, bạn có thể nhiều lần hỏi những câu hỏi ngớ ngẩn với giảng viên, nhưng trong cuộc sống nếu bạn hỏi cùng một câu hỏi hay mắc phải sai lầm tương tự lặp đi lặp lại, thì bạn sẽ bị dán mác “ngớ ngẩn”.

10. Điều quan trọng là bạn tiếp tục tiến lên phía trước. Cuộc sống là một cuộc hành trình, không phải là một điểm đến

Thời học phổ thông, bạn chỉ muốn điểm cao. Khi bạn vào đại học, bạn muốn được nổi tiếng. Khi bạn có công việc, mục tiêu tiếp theo là làm việc để được thăng chức. Sau khi được thăng bạn muốn có một kỳ nghỉ với gia đình, và cứ tiếp tục như vậy. Cuộc sống luôn chuyển động và từng phút giây trôi qua, bạn phải có những kỳ vọng và khát vọng mới. Vì vậy, hãy nghĩ đến những niềm vui nho nhỏ và tiếp tục tiến lên phía trước.

11. Mọi người đều rất bận rộn, vì vậy bạn cần chăm sóc bản thân

Mọi người xung quanh bạn đang bận rộn trong cuộc chiến của riêng mình. Ngay cả đứa trẻ 5 tuổi cũng có những thử thách và nhiệm vụ của riêng mình. Vì vậy, hãy học cách tự chăm sóc bản thân. Bạn cần phải yêu thương và chăm sóc cho người mà bạn nhìn thấy trong gương vì những năm tháng đại học kết thúc rồi và bạn bè của bạn đã không còn ở đó nữa.   
Vnexpress/lifehack

Tuesday, June 17, 2014

Top 10 Kỹ năng “mềm” để sống học tập và làm việc hiệu quả

Có một nghịch lý rất khó lý giải: Người VN thi các giải quốc tế (toán, vật lý, cờ vua, robotcom...) đều được đánh giá rất cao, thế nhưng lại chưa thành đạt nhiều trong công việc.


Người gửi: Phan Quốc Việt

Năm nào nước ta cũng có rất nhiều giải vàng, giải bạc quốc tế - điều mà nhiều nước trong khu vực phải ghen tị. Nhưng mỗi khi nói về năng lực của lao động VN thì chắc chắn chúng ta dừng ở một vị trí đáng buồn. Tại sao lại thế? Rõ ràng là có một khoảng hẫng hụt lớn giữa cái được dạy và nhu cầu xã hội, thực tế sản xuất kinh doanh.

Trong hội nghị với bộ Đại học, UNESCO đề xướng mục đích học tập: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”. Trường học chúng ta hiện đang nặng về học để biết, nghĩa là chỉ đạt được một trong bốn mục tiêu của UNESCO.

Ngân hàng Thế giới gọi thế kỷ 21 là kỷ nguyên của kinh tế dựa vào kỹ năng - Skills Based Economy (http://www.librarything.com/work/5395375). Năng lực của  con người được đánh giá trên cả 3 khía cạnh: kiến thức, kỹ năng và thái độ. Các nhà khoa học thế giới cho rằng: để thành đạt trong cuộc sống thì kỹ năng mềm (trí tuệ cảm xúc) chiếm 85%, kỹ năng cứng (trí tuệ logic) chỉ chiếm 15% (http://www.softskillsinstitution.com/faq.htm).

Chúng ta đã bước vào thế kỷ 21 đã 10 năm, thế mà chương trình đào tạo và việc đánh giá năng lực của học sinh, sinh viên vẫn dựa chủ yếu vào kiến thức. Peter M. Senge nói “Vũ khí cạnh tranh mạnh nhất là học nhanh hơn đối thủ”. Rõ ràng muốn tăng cường năng lực cạnh tranh chúng ta không những phải học nhanh mà phải học đúng.

Ngày xưa, nhà trường là nơi duy nhất để ta có thể tiếp cận với kiến thức. Thế giới ngày càng phẳng hơn, nhờ internet mọi người đều có thể tiếp cận được thông tin, dữ liệu một cách bình đẳng, mọi lúc, mọi nơi. Kiến thức ngày càng nhiều và từ việc có kiến thức đến thực hiện một công việc để có kết quả cụ thể không phải chỉ có kiến thức là được. Từ biết đến hiểu, đến làm việc chuyên nghiệp với năng suất cao là một khoảng cách rất lớn. Vậy câu hỏi đặt ra là: “Kỹ năng nào là cần thiết cho mỗi con người để thành công trong công việc và cuộc sống?”

Tại Mỹ, Bộ Lao động Mỹ (The U.S. Department of Labor) cùng Hiệp hội Đào tạo và Phát triển Mỹ (The American Society of Training and Development) gần đây đã thực hiện một cuộc nghiên cứu về các kỹ năng cơ bản trong công việc. Kết luận được đưa ra là có 13 kỹ năng cơ bản cần thiết để thành công trong công việc:

1.      Kỹ năng học và tự học (learning to learn)
2.      Kỹ năng lắng nghe (Listening skills)
3.      Kỹ năng thuyết trình (Oral communication skills)
4.      Kỹ năng giải quyết vấn đề (Problem solving skills)
5.      Kỹ năng tư duy sáng tạo (Creative thinking skills)
6.      Kỹ năng quản lý bản thân và tinh thần tự tôn (Self esteem)
7.      Kỹ năng đặt mục tiêu/ tạo động lực làm việc (Goal setting/ motivation skills)
8.      Kỹ năng phát triển cá nhân và sự nghiệp (Personal and career development skills)
9.      Kỹ năng giao tiếp ứng xử và tạo lập quan hệ (Interpersonal skills)
10.  Kỹ năng làm việc đồng đội (Teamwork)
11.  Kỹ năng đàm phán (Negotiation skills)
12.  Kỹ năng tổ chức công việc hiệu quả (Organizational effectiveness)
13.  Kỹ năng lãnh đạo bản thân (Leadership skills)

Năm 1989, Bộ Lao động Mỹ cũng đã thành lập một Ủy ban Thư ký về Rèn luyện các Kỹ năng Cần thiết (The Secretary’s Commission on Achieving Necessary Skills - SCANS). Thành viên của ủy ban này đến từ nhiều lĩnh vực khác nhau như giáo dục, kinh doanh, doanh nhân, người lao động, công chức… nhằm mục đích “thúc đẩy nền kinh tế bằng nguồn lao động kỹ năng cao và công việc thu nhập cao”. (http://wdr.doleta.gov/SCANS/)

Tại Úc, Hội đồng Kinh doanh Úc (The Business Council of Australia - BCA) và Phòng thương mại và công nghiệp Úc (the Australian Chamber of Commerce and Industry - ACCI) với sự bảo trợ của Bộ Giáo dục, Đào tạo và Khoa học (the Department of Education, Science and Training - DEST) và Hội đồng giáo dục quốc gia Úc (the Australian National Training Authority - ANTA) đã xuất bản cuốn “Kỹ năng hành nghề cho tương lai” (năm 2002). Cuốn sách cho thấy các kỹ năng và kiến thức mà người sử dụng lao động yêu cầu bắt buộc phải có. Kỹ năng hành nghề (employability skills) là các kỹ năng cần thiết không chỉ để có được việc làm mà còn để tiến bộ trong tổ chức thông qua việc phát huy tiềm năng cá nhân và đóng góp vào định hướng chiến lược của tổ chức. Các kỹ năng hành nghề bao gồm có 8 kỹ năng như sau:

1.      Kỹ năng giao tiếp (Communication skills)
2.      Kỹ năng làm việc đồng đội (Teamwork skills)
3.      Kỹ năng giải quyết vấn đề (Problem solving skills)
4.      Kỹ năng sáng tạo và mạo hiểm (Initiative and enterprise skills)
5.      Kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức công việc (Planning and organising skills)
6.      Kỹ năng quản lý bản thân (Self-management skills)
7.      Kỹ năng học tập (Learning skills)
8.      Kỹ năng công nghệ (Technology skills)

Chính phủ Canada cũng có một bộ phụ trách về việc phát triển kỹ năng cho người lao động. Bộ Phát triển Nguồn Nhân lực và Kỹ năng Canada (Human Resources and Skills Development Canada - HRSDC) có nhiệm vụ xây dựng nguồn nhân lực mạnh và có năng lực cạnh tranh, giúp người Canada nâng cao năng lực ra quyết định và năng suất làm việc để nâng cao chất lượng cuộc sống. Bộ này cũng có những nghiên cứu để đưa ra danh sách các kỹ năng cần thiết đối với người lao động. Conference Board of Canada là một tổ chức phi lợi nhuận của Canada dành riêng cho nghiên cứu và phân tích các xu hướng kinh tế, cũng như năng lực hoạt động các tổ chức và các vấn đề chính sách công cộng. Tổ chức này cũng đã có nghiên cứu và đưa ra danh sách các kỹ năng hành nghề cho thế kỷ 21 (Employability Skills 2000+) bao gồm cá kỹ năng như:

1.      Kỹ năng giao tiếp (Communication)
2.      Kỹ năng giải quyết vấn đề (Problem solving)
3.      Kỹ năng tư duy và hành vi tích cực (Positive attitudes and behaviours)
4.      Kỹ năng thích ứng (Adaptability)
5.      Kỹ năng làm việc với con người (Working with others)
6.      Kỹ năng nghiên cứu khoa học, công nghệ và toán (Science, technology and mathematics skills)

Chính phủ Anh cũng có cơ quan chuyên trách về phát triển kỹ năng cho người lao động. Bộ Đổi mới, Đại học và Kỹ năng được chính chủ thành lập từ ngày 28/6/2007, đến tháng 6/2009 thì được ghép với Bộ Kinh tế, Doanh nghiệp và Đổi mới Pháp chế để tạo nên bộ mới là Bộ Kinh tế, Đổi mới và Kỹ năng. Bộ này chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến việc học tập của người lớn, một phần của giáo dục nâng cao, kỹ năng, khoa học và đổi mới. (Nguồn: http://www.dius.gov.uk/). Cơ quan chứng nhận chương trình và tiêu chuẩn (Qualification and Curriculum Authority) cũng đưa ra danh sách các kỹ năng quan trọng bao gồm:

1.      Kỹ năng tính toán (Application of number)
2.      Kỹ năng giao tiếp (Communication)
3.      Kỹ năng tự học và nâng cao năng lực cá nhân (Improving own learning and performance)
4.      Kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (Information and communication technology)
5.      Kỹ năng giải quyết vấn đề (Problem solving)
6.      Kỹ năng làm việc với con người (Working with others)

Chính phủ Singapore có Cục phát triển lao động WDA (Workforce Development Agency) WDA đã thiết lập hệ thống các kỹ năng hành nghề ESS (Singapore Employability Skills System) gồm 10 kỹ năng (http://wsq.wda.gov.sg/GenericSkills/):

1.      Kỹ năng công sở và tính toán (Workplace literacy & numeracy)
2.      Kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (Information & communications technology)
3.      Kỹ năng giải quyết vấn đề và ra quyết định (Problem solving & decision making)
4.      Kỹ năng sáng tạo và mạo hiểm (Initiative & enterprise)
5.      Kỹ năng giao tiếp và quản lý quan hệ (Communication & relationship management)
6.      Kỹ năng học tập suốt đời (Lifelong learning)
7.      Kỹ năng tư duy mở toàn cầu (Global mindset)
8.      Kỹ năng tự quản lý bản thân (Self-management)
9.      Kỹ năng tổ chức công việc (Workplace-related life skills)
10.  Kỹ năng an toàn lao động và vệ sinh sức khỏe (Health & workplace safety).

Trong WDA còn có Trung tâm kỹ năng hành nghề (The Centre for Employability Skills (CES)) để đánh giá hệ và hỗ trợ đào tạo kỹ năng.

Ở VN, các kỹ năng chưa được chú trọng trong hệ thống giáo dục cũng như trong cuộc sống. Hình như nền giáo dục của chúng ta đang dựa trên một giả định “người ta biết thì người ta sẽ làm được”. Và vì vậy họ cứ cố dạy cho học sinh, sinh viên thật nhiều kiến thức hòng làm được việc khi ra trường. Nhưng thực tế đâu có vậy, từ biết đến hiểu là một khoảng cách rất xa, và từ hiểu đến làm việc chuyên nghiệp với năng suất cao là một khoảng cách còn xa hơn nữa. Điều này dẫn đến một thực trạng là sinh viên khi ra trường  biết nhiều kiến thức nhưng lại không có khả năng làm việc cụ thể. Chỉ vài năm gần đây, các phương tiện thông tin đại chúng mới nhắc nhiều đến cụm từ “kỹ năng” và “kỹ năng mềm”.Kỹ năng là khả năng thực hiện một công việc nhất định, trong một hoàn cảnh, điều kiện nhất định, đạt được một chỉ tiêu nhất định. Các kỹ năng có thể là kỹ năng nghề nghiệp (các kỹ năng kỹ thuật cụ thể như hàn, tiện, đánh máy, lái xe, lãnh đạo, quản lý, giám sát…) và kỹ năng sống (các kỹ năng giao tiếp, ứng xử, tư duy, giải quyết xung đột, hợp tác, chia sẻ…). Mỗi người học nghề khác nhau thì có các kỹ năng khác nhau nhưng các kỹ năng sống là các kỹ năng cơ bản thì bất cứ ai làm nghề gì cũng cần phải có.

Chúng ta tự hào về nguồn lao động dồi dào. Nhưng đó mới chỉ là số lượng. Chất lượng lao động mới là vấn đề đáng bàn. Theo bà Nguyễn Thị Hằng (nguyên Bộ trưởng Bộ LĐ, TB & XH, Chủ tịch hội dạy nghề VN), hiện nay, Việt Nam còn đến hơn 50% lao động trong tổng số hơn 10 triệu lao động chưa qua đào tạo cơ bản chính quy, mà chủ yếu là vừa học vừa làm hoặc làm những công việc đơn giản. Điều đó cho chúng ta thấy bức tranh tổng thể về kỹ năng nghề nghiệp của lực lượng lao động không có gì là sáng sủa cho lắm và còn nhiều việc phải làm để có một bức tranh tươi sáng hơn. Điều tối thiểu phải biết (nhưng lại không phải ai cũng biết), là xã hội bây giờ sử dụng sản phẩm dùng được, chứ không sử dụng khả năng hay bằng cấp của con người. Anh không có kỹ năng đánh máy, thì có thuộc lòng 10 quyển sách về Microsoft Office cũng vô nghĩa. Anh không thiết kế nổi một cái nhà bình thường 3 tầng, thì có tốt nghiệp xuất sắc trường Kiến trúc cũng vô nghĩa.

Tổng hợp các nghiên cứu của các nước và thực tế VN, 10 kỹ năng sau là căn bản và quan trọng hàng đầu cho người lao động trong thời đại ngày nay:

1.      Kỹ năng học và tự học (Learning to learn)
2.      Kỹ năng lãnh đạo bản thân và hình ảnh cá nhân (Self leadership & Personal branding)
3.      Kỹ năng tư duy sáng tạo và mạo hiểm (Initiative and enterprise skills)
4.      Kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức công việc (Planning and organising skills)
5.      Kỹ năng lắng nghe (Listening skills)
6.      Kỹ năng thuyết trình (Presentation skills)
7.      Kỹ năng giao tiếp và ứng xử (Interpersonal skills)
8.      Kỹ năng giải quyết vấn đề (Problem solving skills)
9.      Kỹ năng làm việc đồng đội (Teamwork)
10.  Kỹ năng đàm phán (Negotiation skills)

Như vậy ngoài những kiến thức chuyên môn, người lao động cần phải được trang bị thêm các kỹ năng hành nghề để đảm bảo có được việc làm mà còn để tiến bộ trong tổ chức thông qua việc phát huy tiềm năng cá nhân và đóng góp vào định hướng chiến lược của tổ chức góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Lâu nay chúng ta chỉ nghĩ đến xuất khẩu lao động, nhưng một thực tế mới đang thách đố người lao động VN là trong thời kỳ khủng hoảng người nước ngoài đang đến tranh chỗ làm việc của ta. Chúng ta có thể bị thua ngay trên sân nhà.

Rõ ràng 10 kỹ năng mềm thiết yếu này không những chỉ giúp người lao động nâng cao năng suất, hiệu quả công việc mà thực chất là giúp ích rất nhiều trong mọi khía cạch cuộc sống ở gia đình ngoài xã hội tại công sở, nâng cao đáng kể chất lượng cuộc sống và văn hóa xã hội, góp phần thay đổi diện mạo con người VN.

Học hỏi kinh nghiệm từ các nước công nghiệp tiên tiến, nhà nước cần phải xây dựng một  chương trình quốc gia về kỹ năng mềm, thành lập một cơ quan chuyên trách xây dựng hệ thống kỹ năng, đào tạo và giám sát chất lượng năng lực của lực lượng lao động. Chúng ta đã bước vào kỷ nguyên kinh tế tri thức. Trong kỷ nguyên kinh tế tri thức thì nguồn vốn con người là quan trọng nhất. “Không thể giải quyết vấn đề mới bằng chuẩn mực cũ” Không thể ngồi hô hào về cải cách giáo dục mà phải có biện pháp cụ thể để nâng cao năng lực của mỗi người dân, nâng cao năng lực cạnh tranh của VN.


Theo Dân Trí




Top 10 Kỹ năng “mềm” để sống học tập và làm việc hiệu quả Top 10 Kỹ năng “mềm” để sống học tập và làm việc hiệu quả 10 7 99786